Cơ sở hạ tầng

14/10/2013

1. Giao thông vận tải 

Giao thông vận tải được xác định là một bộ phận rất quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế và là một trong những phương tiện hàng đầu liên kết tỉnh với bên ngoài, vì vậy Vĩnh Phúc chú trọng ưu tiên phát triển giao thông vận tải đi trước một bước.

Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông đa dạng, phân bổ đồng đều trong toàn tỉnh, bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy. Mặt khác, Vĩnh Phúc nằm sát sân bay quốc tế Nội Bài, do vậy việc đi lại hay vận chuyển hàng hóa hết sức thuận tiện.

Về đường bộ, có 4 tuyến quốc lộ: Quốc lộ 2, 2B, 2C và quốc lộ 23. Trong đó quốc lộ 2 là tuyến quan trọng, xuyên suốt từ các tỉnh phía Bắc chạy dọc theo chiều dài của tỉnh về Hà Nội và nối đến các tỉnh phía Nam, đưa Vĩnh Phúc hòa nhập vào mạng giao thông của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Đường sắt Hà Nội – Lào Cai nối với Vân Nam – Trung Quốc đi qua Vĩnh Phúc có 6 ga, là tuyến giao thông quan trọng, vận tải hàng hóa, hành khách. Vĩnh Phúc có các con sông lớn đi qua như: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy, với các cảng sông Chu Phan, Vĩnh Thịnh, Như Thụy có thể vận chuyển nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng hóa thiết bị, máy móc từ cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh về Vĩnh Phúc thuận lợi.

Nhằm góp phần thu hút, mời gọi đầu tư, năm 2010, nhiều tuyến đường quan trọng đã và đang được khởi công phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là công nghiệp và đô thị. Bên cạnh việc chi trên 1.000 tỷ đồng cho đầu tư phát triển hạ tầng, tỉnh Vĩnh Phúc đã tích cực mời gọi các doanh nghiệp có năng lực đầu tư vào lĩnh vực này. Đến nay, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp đến đầu tư. Con đường xương sống của tỉnh là quốc lộ 2A đoạn Vĩnh Yên - Nội Bài đã hoàn thành và đưa vào sử dụng không chỉ giải quyết sự ùn tắc của lượng xe cộ lưu thông mà còn mở rộng hơn cánh cửa thu hút đầu tư đối với Vĩnh Phúc. Đường từ quốc lộ 2A nối khu công nghiệp Bình Xuyên với khu công nghiệp Bá Thiện đã hoàn thành; một loạt tuyến đường khác như đường Nguyễn Tất Thành nối 4 khu công nghiệp, quốc lộ 2B, 2C, Đại Lải - Đạo Tú cũng đang triển khai thi công phục vụ chủ trương “Đưa công nghiệp lên đồi”.

2. Mạng lưới thông tin và truyền thông 

Cùng với sự phát triển nhanh của mạng lưới thông tin trong cả nước, mạng lưới bưu chính, viễn thông, thông tin trong tỉnh đã đáp ứng được yêu cầu thông tin phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân. Mạng thông tin phục vụ công tác quản lý ngày càng hiện đại đã đáp ứng được đầy đủ và kịp thời công tác thông tin phục vụ yêu cầu chỉ đạo, điều hành quản lý của các cấp lãnh đạo. Hạ tầng viễn thông, thông tin của Vĩnh Phúc đã có những bước phát triển mạnh, mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh được trang bị tổng đài hiện đại, đáp ứng tốt các dịch vụ và có khả năng nâng cấp, cung cấp các dịch vụ mới. Về mặt phổ cập dịch vụ, 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã có máy điện thoại, mật độ thuê bao điện thoại (cả cố định và di động) năm 2010 đạt 48,38 thuê bao/100 dân.

Mạng phục vụ Bưu chính hiện nay đã được phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh đáp ứng các dịch vụ bưu chính cơ bản. Đến hết năm 2010, tất cả các xã đã có điểm phục vụ, với 176 điểm phục vụ, trong đó có 27 bưu cục và 123 điểm bưu điện văn hoá xã (BĐVHX). Bán kính phục vụ bình quân là 1,7-1,5 km/điểm, số dân bình quân được phục vụ là 5.764 người/1 bưu cục. Toàn tỉnh có 211 thùng thư được đặt ở tất cả các xã, phường, thị trấn.

Mạng viễn thông phát triển mạnh với các công nghệ hiện đại tương đương với mức trung bình cuả khu vực. Các tổng đài độc lập có dung lượng trên 5.000 số đang từng bước được thay thế bằng các tổng đài vệ tinh hoặc thiết bị truy nhập V5.x. Tất cả các xã đều có truyền dẫn quang. Có 3 tuyến cáp quang liên tỉnh của VNPT, Viettel và EVN Telecom hướng Hà Nội - Vĩnh Phúc - Việt Trì.

Truyền dẫn nội tỉnh do viễn thông tỉnh quản lý; kết nối giữa các tổng đài thường sử dụng từ 2 đến 5 luồng 2 Mb/s. Các tuyến viba nội tỉnh thường sử dụng 2 luồng 2 Mb/s. Về mạng ngoại vi, cáp ngầm thường sử dụng các loại cáp từ 200 đến 600 đôi, các tuyến cáp treo dưới 200 đôi và trên 1000 km cáp đi trong cống. Có 80.000 đôi cáp gốc và bán kính phục vụ thường từ 4 - 7 km. Do đặc thù địa lý của tỉnh là diện tích không lớn và địa hình trung du nên mạng viễn thông nông thôn sử dụng cáp đồng.

Trong tỉnh có đầy đủ các mạng điện thoại di động hiện có trong nước như: Mobifone, Vinaphone, Viettel Mobile, EVNTelecom, Vietnamobile, G-Tel.... Tất cả các huyện trong tỉnh đều có trạm phát sóng. Đến cuối năm 2008 toàn tỉnh có khoảng 432 trạm BTS, cơ bản đảm bảo thông tin thông suốt trên địa bàn.

Về mạng Internet và VoIP, tại Vĩnh Yên có 1 POP của VDC cung cấp dịch vụ truy nhập Internet và VoIP. Mạng Internet của Vĩnh Phúc đã triển khai 2 thiết bị DSLAM cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng tại Vĩnh Yên và Phúc Yên. Đường truyền băng thông rộng ADSL, truyền hình cáp cũng đang được các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ triển khai đầu tư lắp đặt thiết bị.

3. Điện lực

Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh nằm trong vùng thuận lợi về cung cấp điện từ lưới điện quốc gia, với việc hệ thống truyền tải và phân phối được quy hoạch và đầu tư đồng bộ đảm bảo thuận lợi, cung cấp đủ nhu cầu cho phát triển các khu công nghiệp của tỉnh.

Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã cùng Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh hệ thống cấp điện gồm có:

a) Đường dây và trạm biến áp hiện có:

Đường dây 220 kV và các đường dây 110 kV vận hành tốt, ổn định và vừa tải.

Các trạm biến áp 110 kV gồm có: trạm Lập Thạch 25 MVA; trạm Vĩnh Yên trong năm 2008 nâng công suất lên 2 x 63 MVA; trạm Phúc Yên 2x40MVA. Để đáp ứng nhu cầu phát triển đặc biệt là phát triển công nghiệp tại khu vực phía Đông Bắc tỉnh, trạm 2 x 125 MVA-220/110/22kV đã được xây dựng trong những năm gần đây. Các trạm 110 kV và hầu hết các trạm trung gian hiện đang vận hành ở chế độ đầy tải.

b) Các công trình đang triển khai xây dựng:

Đường dây và trạm 110 kV Thiện Kế công suất 2 x 63 MVA (đã cơ bản xây dựng xong đường dây).

Đường dây và trạm biến áp 110 kV Vĩnh Tường 2 x 25 MVA (đã hoàn thành thiết kế kỹ thuật, chuẩn bị khởi công).

Ngoài ra đang có kế hoạch nâng công suất trạm 110kV Phúc Yên hiện có từ 2 x 40 MVA lên 40+63 MVA.

4. Mạng lưới cấp, thoát nước, xử lý nước thải và rác thải

Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về nguồn nước. Nguồn nước mặt, nước ngầm tự nhiên dồi dào đủ để cung cấp cho hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thủy lợi trên địa bàn. Tuy nhiên, hệ thống cấp nước sạch cho sinh hoạt và phát triển công nghiệp còn chưa được đầu tư lớn.

a) Cấp nước

Hiện nay Vĩnh Phúc có một số nhà máy nước cung cấp nước sạch cho sinh hoạt: Nhà máy nước Vĩnh Yên, công suất cấp nước 16.000 m3/ngày đêm với 17 giếng khoan và 1 nhà máy xử lý chất lượng nước; Nhà máy nước Phúc Yên (do Công ty cấp thoát nước môi trường số II quản lý) có công suất 12.000 m3/ngày đêm với 5 giếng khoan, trong đó, nước cấp cho sản xuất công nghiệp 3.174 m3/ngày đêm.

Ngoài các nhà máy trên, còn có các dự án nhỏ cấp nước sạch ở thị trấn Tam Đảo (công suất 5.000 m3/ngày đêm), Yên Lạc, Lập Thạch và thị trấn Vĩnh Tường với công suất 3.000 m3/ngày đêm. Dự kiến đến hết năm 2010 đạt 8/9 huyện lỵ (ngoại trừ huyện lỵ Sông Lô mới thành lập) có hệ thống cấp nước sạch tập trung.

Hiện nay, tỉnh đang triển khai và kêu gọi đầu tư một số dự án cấp nước lớn lấy nước từ Sông Lô: Dự án JBIC, công suất dự kiến 100.000 m3/ngày đêm, tổng vốn 120 triệu USD; đang kêu gọi nhà đầu tư (Hà Lan) dự án 500.000 m3/ngày đêm.

Hệ thống cung cấp nước sạch của tỉnh cho đến nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân và cho sản xuất. Cung cấp nước đô thị chưa tốt và chất lượng nước chưa đạt yêu cầu.

b) Thoát nước:

Hiện nay, hầu hết trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ và hoàn chỉnh, một số khu vực đô thị mới chỉ được đầu tư xây dựng cống, rãnh thu gom nước thải, các công trình được đầu tư còn nhỏ lẻ, mang tính chắp vá, cục bộ. Ngay cả các đô thị lớn như thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên cho đến nay vẫn chưa có hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung. Nước thải mới chỉ được xử lý cục bộ bằng hệ thống bể tự hoại của các hộ gia đình, sau đó thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước mưa và nước thải.

Hiện tại chỉ có hai dự án thoát nước đang được triển khai tại thành phố Vĩnh Yên:

- Dự án thoát nước mưa khu vực phía Nam Vĩnh Yên: dự kiến hoàn thành vào năm 2010.

- Nhà máy xử lý nước thải và hệ thống thoát nước thải khu vực Vĩnh Yên: dự kiến hoàn thành trong năm 2012.

Xử lý nước thải trong các khu công nghiệp vẫn chưa được đầu tư đúng mức. Hiện tại, có 11,11% khu công nghiệp có hệ thống nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

c) Hệ thống xử lý rác thải:

- Đối với rác thải sinh hoạt:

Tỉnh đã triển khai xây dựng các trạm xử lý rác thải thành phân vi sinh tại thị trấn Thanh Lãng, xã Đại Đồng, xã Đồng Cương, thị trấn Lập Thạch. Đến nay cơ bản các công trình đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Công suất xử lý của mỗi trạm là 10 tấn rác hữu cơ/tháng. Tính đến nay, tỷ lệ chất thải sinh hoạt khu vực thành thị được xử lý là 65%, nông thôn là 52%.

– Đối với xử lý rác thải công nghiệp, rác thải rắn:

Việc xử lý rác thải công nghiệp là trách nhiệm của các doanh nghiệp. Một lượng lớn chất thải này được tái sử dụng làm nguyên liệu, nhiên liệu cho các ngành khác, một phần được xử lý đơn giản bằng phương pháp thiêu đốt hoặc chôn lần. Hiện nay chất thải, rác thải tỉnh đang tìm địa điểm và kêu gọi nhà đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải.

5. Y tế, chăm sóc sức khỏe

Mạng lưới y tế các cấp được củng cố và tăng cường, các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện được mở rộng, cải tạo, nâng cấp. Chất lượng các dịch vụ y tế được nâng lên, một số dịch vụ y tế kỹ thuật cao được triển khai sử dụng. Đến hết năm 2010, số bác sỹ/1 vạn dân đạt 7 bác sỹ; số giường bệnh/1 vạn dân đạt 22,7 giường; 96,35% xã, phường, thị trấn  đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Lực lượng y tế dự phòng đã tích cực chủ động triển khai, phát hiện và xử lý kịp thời khi có dịch bệnh xảy ra; giám sát chặt chẽ các bệnh truyền nhiễm trước những diễn biến dịch bệnh. Trong nhiều năm không có dịch lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh. Một số bệnh dịch quan trọng ở Vĩnh Phúc đã được khống chế như Cúm A (H5N1) và dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm, tỷ lệ tử vong thấp. Triển khai thực hiện tốt các Chương trình mục tiêu y tế Quốc gia ngay tại cộng đồng nhờ có mạng lưới y tế xã và mạng lưới y tế thôn bản hoạt động rất tích cực.

Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ cao (thường đạt trên 95%), phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván và theo dõi thai sản, tỷ lệ phụ nữ có thai được khám 3 lần trở lên đạt trên 90% góp phần hạ thấp tỷ lệ chết trẻ sơ sinh và tỷ lệ chết mẹ. Thực hiện các chương trình dinh dưỡng ngay tại cộng đồng tốt, tỷ lệ trẻ em < 5 tuổi suy dinh dưỡng đã giảm từ 33,4% năm 2001 và 25% năm 2005 xuống còn 15% vào năm  2010.

Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được triển khai tích cực, năm 2010 mức giảm tỷ suất sinh đạt 0,09%o; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,14%, quy mô dân số theo kết quả cuộc Tổng Điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2009 là 1.000,8 nghìn người.

6. Giáo dục - đào tạo và nguồn lao động

Hệ thống các cơ sở giáo dục – đào tạo của Vĩnh Phúc đã góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở từ năm 2002, tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng nhanh: năm 2005 là 28%; 2010 là 51,2%.

Tổng số học sinh phổ thông có mặt đầu năm 2009-2010 là 241.212 người, tăng 0.2% so với năm học trước. Số giáo viên đạt chuẩn các trường phổ thông đạt chuẩn và trên chuẩn đều cao hơn so với năm học trước. Hệ thống giáo dục mầm non tiếp tục phát triển, tỷ lệ huy động số cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ, nhóm trẻ và các cháu trong độ tuổi vào học mẫu giáo đều tăng so với năm học trước. Hoàn thành việc chuyển đổi từ bán công sang công lập 12/12 trường THPT và 158/161 cơ sở giáo dục mầm non.

Hoạt động đào tạo được đẩy mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo cho phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu đào tạo của nhân dân. Trên địa bàn tỉnh có 78 cơ sở đào tạo gồm: 3 trường đại học, 7 trường Cao đẳng, 13 cơ sở có đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp, 55 cơ sở dạy nghề thuộc các Bộ, ngành TW, tỉnh huyện, doanh nghiệp, các tổ chức quần chúng xã hội và các thành phần khác. Tỉnh có Trường chính trị có nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức về chính trị và quản lý nhà nước cho cán bộ các cơ quan đảng, chính quyền các cấp.

Hoạt động dạy nghề phát triển nhanh trong thời gian gầy đây cả về số cơ sở và số người được đào tạo. Ngoài các trường, trung tâm dạy nghề, việc dạy nghề còn được tổ chức trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Mạng lưới cơ sở dạy nghề chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã và các khu công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo cho lao động tại chỗ.

Ngoài những cơ sở dạy nghề phục vụ cho ngành công nghiệp, trên địa bàn tỉnh cũng đã có những cơ sở dạy nghề cho nông dân phục vụ phát triển nông nghiệp.

Công tác giải quyết việc làm luôn được chú trọng, số lao động được sắp xếp việc làm năm sau luôn cao hơn năm trước. Năm 2010 toàn tỉnh có khoảng 695 ngàn lao động, trong đó có khoảng 21 ngàn lao động được sắp xếp việc làm. Tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị vì vậy cũng ngày càng giảm, năm 2001 tỷ lệ này là 3,82% đến năm 2010 tỷ lệ này giảm còn 1,06%. Công tác tạo việc làm tại khu vực nông thôn cũng thường xuyên được quan tâm, tỷ lệ sử dụng lao động ở khu vực nông thôn ngày càng tăng, năm 2001 là 71,75%, năm 2005 tăng lên 85% và đến năm 2010 khoảng 91%.

Các tin đã đưa ngày: