Đấu tranh Ngoại góp phần làm nên chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975

30/04/2021

Cách đây 46 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 30/4/1975 đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, kết thúc hơn 30 năm chiến đấu dòng dã và oanh liệt của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Chiến thắng lịch sử này là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao để đi đến thắng lợi cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong cuộc đối đầu với kẻ thù có sức mạnh quân sự hùng mạnh, Đảng ta luôn xác định mặt trận ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, có ý nghĩa chiến lược và cần phải kết hợp chặt chẽ các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Thắng lợi trên chiến trường là yếu tố quyết định cho thắng lợi trên bàn đàm phán và ngược lại, thắng lợi trên bàn đàm phán sẽ tạo điều kiện thuận lợi để giành được thắng lợi lớn hơn trên chiến trường buộc đối phương phải xuống thang.

Quán triệt chủ trương đó, ngoại giao Việt Nam đã đóng góp xứng đáng trong việc xây dựng mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, tạo nên thế trận "vừa đánh vừa đàm" chấm dứt chiến tranh bằng Hiệp định Pa-ri năm 1973 và tiến tới chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975.

Với tinh thần chủ động, sáng tạo, ngoại giao đã giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc, kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh pháp lý, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mở rộng quan hệ với các nước dân tộc chủ nghĩa, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta.

Cùng với ý chí sắt đá của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm thu giang sơn về một mối, sự chi viện, giúp đỡ mọi mặt của Liên Xô và Trung Quốc đã góp phần quan trọng giúp quân và dân ta lập nên những chiến công lẫy lừng trên chiến trường, bẻ gãy ý chí chiến tranh của đối phương. Cùng với đó, ngoại giao đã góp phần tăng cường liên minh chiến đấu với các lực lượng cách mạng ở Lào và Cam-pu-chia, mở rộng quan hệ đoàn kết hữu nghị với các nước Á, Phi và Mỹ la-tinh, ra sức tranh thủ chính quyền và nhân dân các nước này, đồng thời vận động nhân dân Mỹ và nhân dân các nước phương Tây khác phản đối chiến tranh và ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta, hình thành mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam. Ngoại giao đã thực sự đóng vai trò cầu nối, gắn Việt Nam với thế giới, gắn cách mạng Việt Nam với các trào lưu chung của thế giới là hòa bình, chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, chuyển tải sức mạnh của cả thời đại đến với Việt Nam, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn của dân tộc ta trong cuộc đối đầu với đế quốc có vũ khí khí tài hiện đại.

Toàn cảnh Hiệp định Pa-ri năm 1973

Ðỉnh cao của hoạt động ngoại giao thời kỳ này là việc mở cuộc đàm phán lịch sử ở Paris từ năm 1968 đến 1973, đưa đến việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến  tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ta đã mở ra cục diện "vừa đánh vừa đàm", phát huy tối đa hiệu quả của những thắng lợi ở chiến trường trên bàn đàm phán. Những cuộc đấu trí cam go trên bàn đàm phán giữa các nhà chính trị, ngoại giao Việt Nam với các đối thủ sừng sỏ, lão luyện đến từ nền ngoại giao nhà nghề của siêu cường hàng đầu thế giới đã khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ của ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao đã buộc Mỹ phải dần xuống thang, đi vào đàm phán theo các điều kiện của ta, ký Hiệp định hòa bình Pa-ri tháng 1/1973 và rút quân khỏi Việt Nam trong khi các lực lượng cách mạng vẫn được ở lại miền nam. Sau khi ký kết Hiệp định Pari, cuộc đấu tranh của ta chuyển sang giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định và tập trung giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong giai đoạn này, ngoại giao tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, đấu tranh đòi Mỹ - Ngụy thi hành Hiệp định; phối hợp với mặt trận quân sự, chính trị, tạo thời cơ chiến lược cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc. Một mặt, ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định ngừng bắn trên toàn chiến trường, trao trả tù binh Mỹ. Mặt khác, ta tích cực, chủ động dùng ngoại giao phát huy thế thắng ở chiến trường, vận dụng cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý của Hiệp định, phối hợp với mặt trận quân sự, chính trị buộc Mỹ, ngụy thi hành Hiệp định. Sau hiệp định Paris, hàng loạt nước đã công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong năm 1973. Cho đến 6/10/1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có 34 nước công nhận và lập quan hệ ngoại giao. 

Từ cuối năm 1974, tình hình chiến trường cũng như tình hình nước Mỹ và quốc tế có lợi cho ta. Đầu năm 1975, trước thời cơ lịch sử, Đảng ta đã hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. 

Người dân Sài Gòn chào đón bộ đội giải phóng sau Chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30/4/1975

Có thể thấy Mặt trận ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan trọng, đóng góp to lớn vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mặt trận ngoại giao đã thể hiện được vai trò quan trọng, chủ động, tích cực, phát huy hiệu quả các nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “độc lập, tự chủ”, “đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu và phương pháp ngoại giao tâm công, tranh thủ thời cơ, kiến tạo thời cơ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, cùng với mặt trận quân sự và chính trị làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, hoàn thành khát vọng thống nhất non sông của cả dân tộc.

  Thanh Tú

 

Các tin đã đưa ngày: